Follow by Email

Thứ Tư, ngày 05 tháng 10 năm 2011

CÂY KEO LAI

KEO LAI

VÊ KỶ THUẬT TRỒNG VÀ CHĂM SÓC

Giới thiệu cHUNG
Keo lai giâm hom là sự kết hợp giữa hai loài: keo lá tràm (Acacia Auriculiormis) và Keo tai tượng (Acacia Mangium) và được tuyển chọn từ những cây đầu dòng có năng suất cao. Cây có nguồn gốc ở Australia, được trồng phổ biến ở Đông Nam Á, ở Việt Nam cây được trồng rộng rãi trên toàn quốc trong những năm gần đây. Cây mọc tốt ở hầu hết các dạng đất, thích nghi nhất là ở các tỉnh từ Quảng Bình trở vào. Lượng mưa từ 1.500 – 2.500 mm/năm. Mọc tốt trên đất có độ pH từ 3 – 7, phân bố từ độ cao 800 m so với mặt nước biển.
Cây cao đến 25 – 30 m, đường kính có thể đến 60 – 80 cm.
Cây ưa sáng, mọc nhanh, có khả năng cải tạo đất, chống xói mòn, chống cháy rừng.
Gỗ thẳng, màu vàng trắng có vân, có giác lõi phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ mộc mỹ nghệ, hàng hóa xuất khẩu.
II. Điều kiện gây trồng:
- Nhiệt độ bình quân: 22oC, tối thích từ 24-28oC, giới hạn 40oC.
- Lượng mưa trung bình trên 1.000 mm, tối thích: 1.600 mm, số tháng mưa bình quân: 4 tháng, tối thiểu: 6 tháng.
- Đất đai: chủ yếu trồng trên các loại đất ferali, tầng dày tối thiểu 75 cm, tối ưu: 4 - 50 cm. Đất phù sa cổ, đất xám bạc màu, đất phèn lên luống không bị ngập nước đều có thể trồng được.
- Do keo lai giâm hom chủ yếu là rễ bàn nên độ dầy tầng đất đối với rừng trồng nguyên liệu trong 5 – 7 năm tiến hành khai thác không nhất thiết phải có độ dày tầng đất > = 40 - 50 cm. Nhưng trong điều kiện cụ thể, Keo giâm hơm không được trồng trên các loại đất sau đây:
+ Đất trơ sỏi đá, tầng đất mỏng, độ sâu < 20 cm
+ Đất cát trắng, đất cát di động
+ Đất nhiễm mặn, thường xuyên ngập úng
+ Đất bị đá ong hóa hay giây hóa.
III. Tạo cây con giâm hom đem trồng:
1. Nguồn gốc xuất xứ của Keo lai giâm hom phải được các Trung tâm giống, Viện Nghiên cứu Khoa học lâm nghiệp, Công ty Giống Lâm nghiệp Trung ương tuyển chọn trồng khảo nghiệm và Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận là giống tiến bộ kỹ thuật.
- Cây Keo lai giâm hom phải được lấy ở cây đầu dòng, nuôi cấy mô để tạo cây giống. Các cây giống lấy hom sau 3 - 4 năm phải được thay thế bằng cây giống mới.
2. Tạo cây con:
- Cắt cành giâm hom từ cây chủ đầu dòng thông qua cấy mô.
- Vườn giâm hom được thiết kế đồng bộ theo qui định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Vườn có cây chủ đầu dòng được cung cấp từ các vườn nuôi cấy mô của Bộ. Vườn giâm hom được chuẩn bị kỹ các phù liệu, các chất phụ gia, phân bón, thuốc trừ sâu,… Đồng thời vườn cũng phải đảm bảo tưới tiêu đầy đủ, chủ động.
* Đất vườn ươm:
Có thành phần cơ giới thịt nhẹ, pH = 5 – 6; vườn phải có giàn che tương đối kiên cố, chủ động điều chỉnh ánh sáng hợp lý, các chất phụ gia như: xơ dừa, rơm mục phải được xử lý trước khi vô bầu.
- Đóng bầu, xếp luống:
Bầu làm bằng chất dẻo polyetylen, có đường kính từ 7 – 9 cm, chiều cao: 12 – 16 cm. Hỗn hợp ruột bầu gồm các chất phụ gia: đất mùn, phân chuồng, phân lân, tro trộn đều. Bầu được đóng và xếp luống trước khi cấy cây hom ra rễ từ 10 – 15 ngày và tưới ẩm.
Kỹ thuật cấy:
Nên cấy vào lúc chiều mát và để cây ổn định qua đêm, tránh cấy cây vào buổi sáng và buổi trưa. Trước khi cấy, bầu được tưới đủ ẩm từ trên xuống dưới đáy bầu. Dùng que tre vót nhọn một đầu để cấy và tạo một lỗ giữa ruột bầu sâu từ 5 -7 cm; cho rễ cây xuống và ép gốc thật chặt. Sau khi cấy phải tưới nước lại cho êm gốc.
Nếu sau khi cấy 3 – 5 ngày cây không phát triển, có dấu hiệu bị chết phải cấy dặm cây mới và chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh hại.
Chú ý: trong quá trình cấy phải thường xuyên dùng bình phun xịt nước lên lá.
3. Chăm sóc cây sau khi cấy:
Trong 45 ngày đầu sau khi cấy, thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho cây; ngày tưới 2 – 3 lần; lượng nước tưới: 5- 7 lít/m2.
Sau 45 ngày đến lúc cây xuất vườn, cường độ tưới giảm dần. Đến trước khi xuất vườn từ 10 – 15 ngày, thường chỉ tưới 1 lần vào lúc chiều mát. Lượng nước tưới 3 – 5 lít/m2. Những ngày nắng nóng kéo dài vẫn tưới 2 lần/ngày.
Trước khi xuất vườn 15 ngày hãm cây không tưới nước để tăng sức đề kháng cho cây.
Bón phân:
Nên bón phân vào buổi chiều mát, bón xong phải tưới nước rửa cây.
Có thể dùng NPK 15 : 15 hoặc 16 : 16 : 8 bón với nồng độ : 1 – 1,5% (100 – 150 gram/10 lít nước) tưới thúc cho cây theo liều lượng 2 lít/1 m2; tưới lúc cây được 1 – 1,5 tháng tuổi.
Phòng bệnh và trị bệnh:
Nguyên tắc: phòng bệnh là chính, trị bệnh là phụ.
Dùng Benlat 0,06% hoặc dung dịch Boordo 0,5% phun theo liều lượng: 1 lít/4 – 5 m2. Trung bình 10 – 15 ngày phun 1 lần. Nếu trị bệnh tăng gấp đôi liều lượng trên.
Dùng Fenitron pha trong 10 lít nước phun theo liều lượng: 1lít/ 10 m2 hoặc các loại thuốc khác phù hợp với từng loại sâu bệnh hại.
4. Tiêu chuẩn cây con đem trồng:
Tiêu chuẩn: tuổi cây con: 3-4 tháng
+ Đường kính cổ rễ: 2 – 3 mm
+ Chiều cao cây: 25 – 30 cm.
Cây sinh trưởng tốt, thân thẳng, không bị sâu bệnh.
Xuất cây con:
Cây con trước khi xuất vườn nên tưới đủ ẩm. Khi bốc xếp vận chuyển cây con phải nhẹ nhàng, tránh làm vỡ bầu, gãy ngọn tổn thương đến cây con. Kiên quyết loại bỏ những cây không đạt tiêu chuẩn (ốm yếu, kém phẩm chất, cây sâu bệnh) ngay tại vườn.
IV. Thiết kế trồng rừng:
Công tác thiết kế trồng rừng keo lai giâm hom phải tuân theo nguyên tắc nội dung, trình tự các bước của quy trình thiết kế trồng rừng.
1.Đất thiết kế trồng rừng phải thuộc vùng dự án đầu tư trồng rừng được các cấp thẩm quyền giao và được phê duyệt.
- Đất không còn rừng mà không có khả năng xúc tiến tái sinh tự nhiên theo các tiêu chuẩn qui định tại điều 6 – chương 2 – quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN 2198) của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Phải đào phẫu diện để xác định đất trồng rừng. Duới 50 ha đào 3 phẫu diện; trên 50 ha cứ thêm 10-20 ha phải đào thêm 1 phẫu diện.
- Đơn vị thiết kế là lô; diện tích bình quân 3- 5 ha; tối đa không quá 7 ha. Các lô thiết kế phải gọn trong khoảnh.
2. Phải thiết kế hệ thống đường ranh cản lửa:
Rộng 10 m; trong đó phần san ủi trắng được thi công năm đầu (năm trồng) rộng 4 m để kết hợp làm đường đi lại. Thường xuyên bảo dưỡng đường ranh cản lửa để phòng chống cháy rừng vào mùa khô.
- Ngăn cách rừng trồng với nương rẫy và điểm dân cư.
- Tận dụng triệt để hệ thống sông, suối, đường giao thông để làm đường ranh cản lửa.
- Kết hợp tối đa giữa đường ranh cản lửa, đường đi lại với đường vận chuyển cây con, chăm sóc và trồng rừng.
- Cự ly giữa các băng cản lửa: 500 – 1000 m, chiếm tỷ lệ 1 – 3% diện tích trồng rừng.
- Nơi có độ dốc dưới 15oC băng đạt vuông góc với hướng gió hại trong mùa khô. Nơi địa hình phức tạp, độ dốc từ 15 – 25 o bố trí băng thuộc đường đồng mức. Dốc trên 25oC không thiết kế băng cản lửa.
- Cần xây dựng biển báo, chòi canh lửa rừng ở những nơi cần thiết.
3. Trồng cây:
- Sau khi mưa đủ ẩm đất, tranh thủ trồng cây ngay. Cây con vận chuyển đến nơi trồng hợp lý; tránh để cây tồn đọng ở hiện trường qua ngày.
- Đất trong hố được trộn đều và lấp bổ sung cho đầy, cuốc lỗ trồng giữa hố; xé túi bầu, đặt cây ngay ngắn giữa hố để mặt bầu thấp hơn miệng hố 1 – 2 cm; lấp đất lèn chặt xung quanh (tránh ép mạnh sát gốc để làm bể bầu).
Lấp đất phủ kín cổ rễ: 2- 3 cm tạo thành hình mâm xôi để giữ ẩm và thoát nước cho cây.
- Sau khi trồng 10 – 15 ngày, tiến hành kiểm tra phát hiện cây chết để trồng dặm cho kịp mùa vụ.
V. Chăm sóc nuôi dưỡng bảo vệ rừng:
1. Chăm sóc rừng trồng:
Do cây keo lai giâm hom, cây con; lúc đem trồng có kích nhỏ đòi hỏi phải chăm sóc những năm đầu thật tốt.
- Sau khi trồng một tháng phải tiến hành chăm sóc sơ khởi một cách tỷ mỉ.
- Dọn kỹ dây leo, cây bụi. Dãy cỏ quanh gốc cây, vun xới nhẹ cây con.
- Sau khi trồng 1,5 – 2 tháng trong năm trồng phải dãy cỏ, vun xới gốc cây với đường kính 1 m.
Năm thứ 2 và năm thứ 3: mỗi năm chăm sóc 3 – 4 lần tùy theo sự xâm thực của thực bì. Nội dung chăm sóc như sau:
- Phát dọn thực bì toàn diện, yêu cầu phát sát gốc.
- Dãy cỏ theo băng rộng 1m theo hàng cây hoặc theo hố đường kính 1 m.
- Vun gốc cho cây với đường kính từ 0,5 – 1,0 m.
Từ năm thứ tư trở đi, mỗi năm chăm sóc 2 lần, chỉ dãy cỏ không cần vun gốc. Luôn luôn phát quang thực bì xâm chiếm.
Bón thúc cho cây trồng từ năm thứ tư, mỗi gốc 100 gram NPK chỉ áp dụng với rừng sản xuất chuyên canh hay thâm canh.
2. Nuôi dưỡng rừng:
- Đối với rừng trồng phòng hộ: không cần tỉa thưa.
- Đối với rừng trồng nguyên liệu: Rừng trồng với mật độ: 1.667 cây/ha đối với rừng thâm canh và mật độ 2.000 cây/ha đối với rừng chuyên canh không cần tỉa thưa.
Tùy tình hình sinh trưởng và mật độ cụ thể của từng lô rừng có thể tỉa thưa những cây sinh trưởng kém, cây bị chèn ép, tán lá dẹt, cây cong queo, sâu bệnh ở độ tuổi 4- 5. Mật độ giữ lại ở rừng thâm canh là: 1.400 – 1.600 cây/ha.
3. Bảo vệ rừng:
- Tuyên truyền ý thức bảo vệ rừng, phòng cháy rừng.
- Cấm chăn thả trâu, bò, cấm chặt phá rừng.
- Phòng chống cháy rừng có hiệu quả bằng cách: khoanh từng lô, khoành rừng cho người bảo vệ.
- Thường xuyên bảo dưỡng đường ranh cản lửa.
- Phân công người canh coi chòi PCCR.
- Quan hệ mật thiết với địa phương trong việc quản lý bảo vệ rừng và PCCR. Đối với đơn vị trồng rừng phải chuẩn bị những trang bị dụng cụ cần thiết để khi có cháy rừng xảy ra kịp thời dập tắt.
Kỹ thuật trồng và chăn sóc cây Keo lai THEO HƯỚNG THÂM CANH

1. Thời vụ trồng rừng
+ Vụ xuân trồng xong trước tháng 4
+ Vụ thu trồng xong trước 15/11
2. Mật độ trồng rừng keo lai
1600-2000 cây/ ha, hàng cách hàng 3 m, cây cách cây 2 m.
3. Chuẩn bị đất trồng
Nơi đất dốc < 150, nếu có điều kiện nên cày máy (cày ngầm) toàn diện tích, sau đó đào hố kích thước 40 x 40 x 40 cm.
4. Bón lót và xăm lấp hố
Bón lót cho mỗi hố 3 kg phân chuồng hoai +200 g NPK. Đập đất tơi nhỏ, loại bỏ đá, rễ cây, tạp vật khác, lấp 1/2 hố. Trộn đều phân chuồng với NPK, bỏ vào hố, dùng quốc xáo trộn đất, sau đó lấp đất đầy hố.
Xăm lấp hố và bón lót phân phải hoàn thành ít nhất 15 ngày trước khi trồng cây.
5. Trồng cây
+ Đào ở chính tâm hố một lỗ sâu hơn chiều cao bầu, rạch nát vỏ bầu, đặt bầu cây giống keo lai vào đúng vị trí tâm hố sao cho thật ngay ngắn và cây con thẳng đứng. Dùng đất tơi nhỏ lấp cao hơn bầu hom 2-3 cm và chèn vừa đủ chặt. Các động tác trồng cây phải thực hiện hết sức nhẹ nhàng để tránh gãy cây, vỡ bầu, dập cổ rễ.
+ Trồng dặm: Sau khi trồng một tháng, tiến hành kiểm tra toàn bộ rừng trồng, nếu cây bị hư hỏng hoặc chết phải tiến hành trồng dặm lại, chỉnh sửa những cây nghiêng bị đổ.
6. Chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng và phòng trừ sâu hại
Cây keo lai khi mới trồng còn thấp dễ bị cỏ dại lấn áp. Rừng trồng keo lai phải chăm sóc cẩn thận trong 3 năm đầu.
+ Chăm sóc nuôi dưỡng
Chăm sóc năm thứ nhất: Chăm sóc 2 lần trước mùa sinh trưởng.
Lần1, tiến hành làm sạch cỏ, xới đất xung quanh gốc sâu 15-20 cm, vun đất đầy gốc cao 5-10 cm, đường kính xung quanh gốc rộng 0,8-1m. Phát dọn sạch dây leo, bụi rậm, đào hai rãnh sâu 20 cm, dài 30 cm đối diện nhau và cách gốc 25 cm. Bón thúc 2kg phân chuồng + 100g NPK. Trộn đều phân với đất nhỏ, bỏ đều 2 rãnh rồi lấp đầy rãnh.
Lần 2, tiến hành tương tự lần một nhưng không bón phân .
Chăm sóc năm thứ 2:
Lần 1, làm sạch cỏ, xới đất xung quanh gốc sâu 20cm, vun đất đắp đầy gốc. Đào hai rãnh sâu 20 cm, dài 30 cm đối diện nhau, lệch với hai rãnh đã đào lần trước và cách gốc cây 35 cm để bón thúc sinh trưởng cho cây. Bón thúc 2 kg phân chuồng +100g NPK trộn đều phân với đất nhỏ, bỏ đều cho 2 rãnh rồi lấp đầy rãnh.
Lần 2, chăm sóc như lần một không bón phân, cần tránh xới xáo rãnh đã bón phân, phát sạch dây leo bụi rậm.
Chăm sóc năm thứ 3:
Phát sạch dây leo bụi rậm, chỉnh sửa cây làm cỏ vun gốc, trợ lực cho những cây sinh trưởng chậm.
Tỉa cành: Nếu cây có nhiều cành nhánh, cần tỉa bớt những cành thấp, tốt nhất là tỉa cành khi mới nhú. Dùng dao, kéo sắc để cắt sát gốc cành tỉa.
7. Bảo vệ rừng và phòng trừ sâu hại
Rừng trồng keo lai phải được bảo vệ chu đáo cho đến khi thu hoạch. Thường xuyên tuần tra canh gác để xác định lửa rừng, xung quanh lô trồng rừng phải có băng cây xanh rộng từ 8-10m để phòng, chống cháy rừng.
Rừng cây keo lai ngay từ lúc mới trồng đến 12 tháng tuổi thường bị mối ăn cắn rễ, ăn vỏ gốc cây non, cắn gốc làm cho cây trồng bị chết. Để phòng chống mối, trước khi trồng phải dọn sạch cành nhánh xung quanh hố trồng. Trộn thuốc diệt mối vào bầu PE trước khi trồng cây. Phá vỡ, diệt tổ mối trên lô trồng rừng, chặn đường lấy nước của mối. Không bón phân có chứa mùn cưa. Không xén rễ trước khi trồng. Khi phát hiện có sâu, bệnh hại rừng cần thông báo tới cơ quan kĩ thuật liên quan để phối hợp phòng chữa sâu bệnh hại kịp thời.
8. Thu hoạch
Rừng keo lai trồng đúng kĩ thuật thâm canh: chọn giống tạo cây con, trồng, chăm sóc quản lý bảo vệ chu đáo, sau 7-8 năm có thể cho thu hoạch gỗ để làm nguyên liệu chế biến bột giấy.
Năng suất tăng trưởng rừng trồng keo lai hiện tại đạt 15-20 m3/ ha/ năm ở chu kì 7-8 năm, và đạt khối lượng 120-160 m3/ ha/ năm sau trồng 7-8 năm (cả vỏ).
Sau 15 năm trồng rừng keo lai có thể khai thác chọn để làm gỗ gia dụng, xây dựng.
KEO LAI (Acacia hybrid)
(Acaóa auriculiformis x A. mangium) :) :)

1.Lược sử hình thành :

Cây Keo lai được chấm phá đầu tiên vào năm 1972 bởi 2 nhà khoa học Hepbum và Ghim tháng một quần thụ ven biển vùng Sabah, Malaysia. Nam 1976, M.Tham đã kết luận thông qua việc thụ phấn chéo giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (A. auriculifonnis) sẽ tạo ra được cây Keo lai có sức sinh trưởng nhanh hơn cầy bố mẹ. Kết luận trên cũng đã được xác nhận bởi kết quả nghiên cứa của Pedley năm 1987. Sau đó hàng loạt các công trình. nghiên cứu của các nhà khoa học khác về nàng lực sản xuất hạt giống, chất lượng gỗ, đặc tính di truyền, sự ra hoa kết quả của keo lai vv . . . đã được công bố rộng rãi.

Cho đến nay, Keo lai đã được khẳng đinh là loài cầy có khả năng chịu đựng được khô hạn, tăng trưởng nhanh và ưu việt hơn Keo lá tràm kể cả trên đất cát nghèo dinh dưỡng. Việc đẩy mạnh trồng rừng phòng hộ và rừng kinh tế bầng keo lai vô tính nhằm thay thế dẩn cây keo lá tràm để tạo ra các quần thể rừng trồng chất lượng cao, trước hết là đối với dự án trồng rừng 661 trong đó keo lai giữ vai trò là cây tiên phong đang là giải pháp hữu hiệu của làm nghiệp nước ta trong trồng rừng Acacia hiện nay.

2. Kỹ thuật tạo cây con và năng suất rừng trồng :

Nhằm hạn chế tinh trạng phân ly của giống lai, Keo lai thường được tạo cây con bằng phương pháp vô tính (hom), hạn chế kỹ thuật tạo cầy con từ hạt (hữu tính).

Để sản xuất hom keo lai phải tiến hành xây dựng vườn giống gốc chuyên dùng để cắt hom. Cây trong vườn giống gốc có mật độ 1 ,5 x 1 .5m được tạo tù hom của các cáy mẹ keo lai được tuyển chọn từ rừng trồng dưới 5 năm tuổi. Các cây này được cưa hạ thân giữ lại đoạn gốc cao 20-30cm cách mặt đất và hom sẽ được cắt từ các chồi non tái sinh từ đoạn gốc cây mẹ này. Tí lệ diện tích vườn giống gốc đối với diện tích trồng rừng thường là 1 /200 (1 ha vườn giống gốc cung cấp hom đủ trồng 200 ha rừng). Ðịnh kỳ tưới nước và bón phăn cho vườn giống gốc có thể khai thác hom 25-30 ngày/1ần.

Dùng kéo tỉa cành cắt chồi tái sinh thành các hom dài 12-15cm có giữ lại 2 đốt lá nhúng hom vào hormone ra rễ (IBA nồng độ 150-200ppm) và dâm vào túi bầu chứa cám xơ dừa xay, đặt trong nhà dâm hom tưới phun sương có ẩm độ trên 80% và nhiệt độ < 30 độ C. Sau khi hom ra rễ thì chuyển cây con ra vườn huấn luyện tiếp tục chăm sóc, bón NPK 15-15-15 (2 tuần 1 lần) đến khi đạt tiêu chuẩn xuất vườn (H : 0,3-0,4m).

Trên đất cát đỏ, đất trống đồi trọc bạc màu của Bình Thuận, trong điều kiện chăm sóc thâm canh, keo lai có thể cho năng suất bình quân từ 15-25m3 gỗ/ha/năm, gấp 2-3 lần keo lá tràm. Sản lượng khai thác khoảng 90-150m 3/ha sau 5-6 năm.
KỶ THUẬT TRỒNG RỪNG KEO LAI


GIỚ THIỆU CHUNG VÊ KEO LAI.:)
Keo lai là tên gọi của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Đây là giống có nhiều đặc điểm hình thái trung gian giữa bố và mẹ, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt về sinh trưởng nhanh, có hiệu suất bột giấy, độ bền cơ học và độ trắng của giấy cao hơn hẳn các loài bố mẹ, có khả năng cố định đạm khí quyển trong đất nhờ các nốt sần ở hệ rễ.

Giống Keo lai này đã được phát hiện ở một số tỉnh vùng Đông Nam bộ, ở Ba Vì (Hà Tây) và một số tỉnh khác và được Trung tâm nghiên cứu giống cây rừng thuộc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam nghiên cứu khảo nghiệm thành công.

Qua nhân giống bằng hom và khảo nghiệm dòng vô tính, Trung tâm đã chọn được một số dòng cây lai có ưu thế lai và các tính chất ưu việt khác. Vì vậy việc đưa nhanh các dòng vô tính này vào sản xuất sẽ góp phần đáng kể vào việc tăng năng suất rừng và cải thiện điều kiện đất đai ở những vùng đồi núi trọc.

* Kỹ thuật nhân giống keo lai bằng hom

1. Xây dựng vườn giống lấy hom
Vườn giống lấy hom keo lai được gây trồng trên đất vườn ươm gần khu nhân giống tạo cây con bằng hom. Diện tích vườn giống lấy hom bằng 1/800 - 1/1000 diện tích trồng rừng Keo lai hàng năm của đơn vị.

Cây trồng trong vườn giống lấy hom là các dòng Keo lai đời F1 do Trung tâm nghiên cứu cây rừng cung cấp vì đã được chọn lọc và qua khảo nghiệm khẳng định tính ưu trội hơn bố mẹ và các dòng khác.

Chọn đất xây dựng vườn giống lấy hom có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất dầy và thoát nước tốt. Phương pháp làm đất là cày bừa toàn diện 2 lần sau đó cày rạch hàng.

Tùy điều kiện địa hình và quy mô vườn giống mà cây giống trong mỗi dòng vô tính được trồng theo hàng hoặc theo khối riêng rẽ và phải có biển ghi rõ số hiệu từng dòng. Cây giống lấy hom được trồng theo hàng với cự ly 0,8 x 0,4 m. Trước khi trồng bón lót mỗi hố 2 kg phân chuồng hoai và 100 g NPK hoặc 300 g phân lân hữu cơ vi sinh Thiên nông. Mùa trồng cây giống ở các tỉnh phía Bắc là vụ xuân và vụ thu, ở các tỉnh miền Trung là tháng 11-12 và ở các tỉnh phía Nam là các tháng 6-7.

Cây giống phải được chăm sóc bảo vệ cẩn thận, không để sâu bệnh, người và gia súc phá hoại. Chung quanh vườn cây giống phải có hàng rào, hàng tháng làm cỏ vun gốc cho cây giống. Sau 3-5 năm khi cây giống đã qua nhiều lần cắt hom không còn sinh trưởng tốt nữa thì phải gây trồng vườn giống mới một năm trước khi hủy vườn giống cũ.

2. Cắt tạo chồi cho cây giống

Tạo chồi lần đầu cho cây giống bằng cách dùng kéo sắc cắt ngang cây ở độ cao cách mặt đất 70 cm. Gốc cây đã cắt được khử trùng bằng thuốc Ben lát nồng độ 0,15% (1,5g thuốc pha trong 1 lít nước) hoặc Ben lát-C nồng độ 0,3%. Việc cắt tạo chồi lần đầu cho cây giống nên kết hợp với việc lấy hom giâm để tận dụng hom. Mùa cắt tạo chồi lần đầu thích hợp là cuối mùa khô đầu mùa mưa, ở miền Bắc là các tháng 1-2, ở miền Trung là tháng 6 và ở miền Nam là các tháng 3-4.

Sau đó, hàng năm cuối mùa sinh trưởng phải đốn tạo chồi và làm trẻ hóa cây giống. Sau khi cắt đốn tiến hành xới đất quanh gốc cây, làm cỏ toàn diện, bón thúc mỗi cây 50g NPK hay 100g phân lân hữu cơ vi sinh Thiên nông và tưới đủ ẩm cho cây.

3. Xây dựng khu giâm hom

Khu giâm hom là nơi để sản xuất và huấn luyện cây hom cho các yêu cầu trồng rừng. Khu giâm hom được xây dựng có mái che bằng lưới nilon hoặc bằng tấm tre đan có độ che 60% (lỗ trống có kích thước dưới 2 x 2 cm) cao cách mặt đất 2,2 m và chung quanh có bao che bằng tôn nhựa trong đến độ cao 1,5 m. Phía trong khu giâm hom là các lều giâm hom đặt cách nhau 40 cm và có đường đi lại thuận tiện.

Nền lều giâm hom được làm dạng bể nông có chiều rộng 1,4m, chiều dài thì tùy theo địa hình cho phép và chiều cao 6 cm. Nền xây bằng gạch có độ dốc cần thiết và có hệ thống thoát nước tốt. Giữa nền có xây gờ cao 5 cm trên đó đặt ống của hệ thống tưới phun.

Khung lều và mái lều hình vòm cung phủ kín ni lon trắng trong. Khung lều làm bằng sắt tròn Φ 8 mm, vòm cung cao 90 cm có hàn thanh giằng phía dưới dài 1,4 m đặt cách chân 8 cm, thanh giằng phía trên đặt cách đỉnh 20 cm. Trên khung sắt vòng hình cung có hàn 7 ốc vít không rỉ phía trong để bắt các thanh giằng dọc. Thanh giằng dọc có bản rộng 1,5 cm dày 3 mm, dài 1 m, hai đầu có lỗ để bắt vào ốc vít ở các khung vòm. Tùy chiều dài của lều mà ghép nối các khung vòm nhiều hay ít.

Trong lều giâm hom tưới bằng hệ thống tưới phun bán tự động với vòi phun cao 35 cm đặt cách nhau 1 m hoặc tưới bằng bình phun thì mở tấm phủ nilon ra để tưới sau đó đậy kín lại.

4. Kỹ thuật cắt cành và giâm hom

Dùng kéo hoặc dao sắc để cắt cành từ vườn giống lấy hom. Việc cắt cành phải tiến hành vào buổi sáng. Cành đã cắt phải được bảo quản nơi râm mát hoặc ngâm gốc cành vào nước. Khi cắt cành phải để lại ở phần gốc ít nhất 2 đôi lá hoặc 2 chồi ngủ. Những cành có nhiều chồi phụ chưa thể làm hom thì cần được giữ lại để cắt lần sau.

Tùy mức độ phát triển của cành mà quyết định thời gian cắt đợt tiếp theo. Cắt cành đầu vụ thì sau đó 1 - 1,5 tháng có thể cách 15 - 20 ngày cắt một lần. Cắt cành xong phải dọn vệ sinh gốc bằng cách phun Ben lát nồng độ 0,15%, xới xáo đất quanh gốc và bón thúc, nếu trời khô hanh phải tưới nước đủ ẩm cho cây.

Cành đã cắt ra sẽ dùng kéo sắc cắt thành hom để giâm. Chiều dài hom 4 - 7cm, mỗi hom có 1-2 lá và phải cắt bớt 2/3 diện tích phiến lá. Phần gốc hom cắt vát 450. Hom đã cắt được ngâm ngay vào dung dịch Benlát nồng độ 0,15% trong 1 tiếng, sau đó vớt ra cấy ngay vào luống giâm hoặc giữ hom có phủ khăn ẩm để không bị khô. Hom cắt lần nào phải cấy ngay lần ấy, không được để hom qua đêm. Hom được cấy trực tiếp vào bầu đất cát pha (không trộn phân) hoặc cấy vào luống cát thô. Trước khi cấy phải phun Ben lát-C 0,3% vào luống cát để khử trùng. Trước khi cấy, hom được xử lý thuốc bột TTG hoặc Seradex bằng cách chấm gốc hom vào thuốc sao cho phủ kín mặt cắt (100g thuốc dùng cho 10.000 - 12.000 hom). Mỗi bầu cấy 1 hom hoặc giâm trên cát thô thì theo khoảng cách 7 x 2 cm. Độ sâu cấy hom khoảng 2 - 3 cm.

5. Mùa giâm hom

Mùa giâm hom phụ thuộc vào mùa trồng cây của từng vùng. ở các tỉnh phía Bắc, mùa giâm hom bắt đầu từ cuối tháng 4 đầu tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 11. Những hom giâm từ tháng 8 trở đi được lưu lại vườn ươm để trồng vào vụ xuân năm sau. ở các tỉnh miền Trung, mùa giâm hom bắt đầu từ tháng 7 đến tháng 12. Những hom giâm thừ tháng 11 trở đi được lưu lại vườn để trồng vào đầu mùa mưa năm sau. Còn ở các tỉnh phía Nam, mùa giâm hom bắt đầu từ tháng 5-6 và kết thúc vào tháng 11 là tốt nhất.
Nguyên tắc chung là giâm hom phải được thực hiện trước khi trồng rừng 3 tháng, nếu giâm hom trước quá lâu thì phải có biện pháp hãm cây.

6. Chăm sóc hom giâm và cây hom

- Sau khi cấy hom phải phủ nilon lên vòm khung sắt của lều giâm hom để giữ ẩm. Những ngày trời nắng gắt phải che râm hoàn toàn cho luống hom.

- Tưới ẩm cho hom giâm bằng hệ thống tưới phun bán tự động hoặc bằng bình bơm thuốc trừ sâu. Thời gian giữa hai lần phun về mùa hè cách nhau 30 phút, về mùa đông cách nhau 60 phút, thời gian phun mỗi lần là 6-10 giây.

- Sau khi giâm 1 tháng thì chuyển bầu hom có lá còn xanh (tức đã ra rễ) ra khỏi lều nilon, song vẫn để dưới dàn che. Trường hợp giâm hom trên cát thô thì nhổ hom đã ra rễ chuyển sang cấy vào bầu đất kích thước 6 x11 cm. Sau khi cấy phải cắm ràng ràng để che râm, nơi không có ràng ràng thì dùng cót phên để che. Khi cây đã sống ổn định thì tháo bỏ dàn che và chăm sóc cây.

- Định kỳ 15 ngày xới đất phá váng 1 lần, nhổ sạch cỏ, tưới thúc bằng NPK nồng độ 1% và tưới đủ ẩm tuỳ theo điều kiện thời tiết cụ thể. Phun thuốc dung dịch Benlát 0,15% hoặc Benlát-C 0,3% định kỳ 10 ngày 1 lần để phòng nấm cho cây con.

- Trong quá trình nuôi cây hom phải kịp thời bấm tỉa các chồi bất định, trên mỗi cây hom chỉ để một chồi phát triển.

Theo Cục Lâm nghiệp

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét